Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Quy định về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất giao đất và quyền sử dụng cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng trả tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định.

Căn cứ pháp lý:

  • Bộ luật dân sự năm 2015
  • Luật đất đai năm 2013

Căn cứ luật đất đai năm 2013, hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định như sau:

Điều 167 luật Đất đai năm 2013:

“…3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã”.

Như vậy, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất hai bên phải lập thành hợp đồng chuyển nhượng có công chứng, chứng thực. Trường hợp nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không tuân thủ điều kiện phải công chứng, chứng thực thì hợp đồng này bị vô hiệu, các bên trao trả lại cho nhau những gì đã nhận. Nếu gây thiệt hại thì bên có lỗi phải bồi thường.

Tuy nhiên, từ 01/01/2017, bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quyền lợi của người bị vi phạm sẽ được đảm bảo hơn. Cụ thể, tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

“Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

 

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.

 

Như vậy, giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm quy định bắt buộc công chứng nhưng bên mua đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán của hợp đồng thì có thể gửi đơn ra Tòa án yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng. Khi được Toà án công nhận hiệu lực hợp đồng, bên mua có quyền yêu cầu bên bán thực hiện nghĩa vụ cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện thủ tục sang tên quyền sử dụng đất.

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Luật sư tư vấn nói:

    Chào bạn!

    Khi ly hôn, Tòa án sẽ ưu tiên giải quyết việc nuôi con theo mong muốn và thỏa thuận của hai bên. Trong trường hợp hai vợ chồng không thể thống nhất thì Tòa án sẽ căn cứ vào điều kiện của bố và mẹ để xác định con sẽ do ai trực tiếp nuôi. 

    Đối với trường hợp con từ đủ 07 tuổi trở lên, Tòa án sẽ xem xét cả nguyện vọng của con khi ra quyết định; trường hợp con dưới 36 tháng tuổi sẽ ưu tiên giao cho mẹ trực tiếp quản lý (trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác).

    Do vậy, để giành được quyền nuôi con bạn cần đưa ra các chứng cứ, tài liệu chứng minh rằng bạn đủ điều kiện nuôi con. 

    ;
  • Tăng thị huyền nói:
    Tôi muốn viết đơn li hôn tôi có 2 đứa con . tôi có thể dành được quyền nuôi con không ạ. ?;
  • Luật sư tư vấn nói:

    Chào bạn!

    Khi bạn muốn ly hôn, bạn gửi đơn tới Tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ bạn cư trú. Bạn có thể tới Tòa án hỏi về mẫu đơn khởi kiện hoặc tìm kiếm các mẫu đơn xin ly hôn qua mạng. Sau đó, bạn hoàn thiện hồ sơ xin ly hôn và nộp tới Tòa án có thẩm quyền giải quyết

    ;
  • Huỳnh Thanh Thảo nói:
    Hộ khẩu mình ở LX tỉnh An Giang.mình đăng ký kết hôn với vợ ở thị xã Tân Châu tỉnh An Giang. Mẫu đơn xin ly ở tòa án thành phố Long xuyên và thị xã Tân Châu giống nhau hay là khác nhau vậy nè;
  • Huỳnh Thanh Thảo nói:
    Hộ khẩu mình ở LX tỉnh An Giang.mình đăng ký kết hôn với vợ ở thị xã Tân Châu tỉnh An Giang. Mẫu đơn xin ly ở tòa án thành phố Long xuyên và thị xã Tân Châu giống nhau hay là khác nhau vậy nè;
  • Luật sư tư vấn nói:

    Chào bạn!

    Để làm đơn ly hôn trong trường hợp ly hôn đơn phương, bạn có thể tìm kiếm mẫu đơn xin ly hôn qua mạng. Bạn có thể tham khảo qua mẫu đơn xin ly hôn sau đây:

    http://luatdansu.net/thu-tuc-ly-hon/don-ly-hon-viet-tay-theo-mau-cua-toa-an.html

    Hoặc bạn có thể tới Tòa án để tìm mẫu đơn xin ly hôn.

    Sau đó bạn điền thông tin và chuẩn bị đầy đủ tài liệu, giấy tờ và nộp đơn đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ (chồng) bạn cư trú.

    ;
  • tran le thao nói:
    toi muon lam don ly hon thi phai lam nhu the nao ak;
  • Luật sư tư vấn nói:

    Chào bạn!

    Đối với trường hợp của bạn, Công ty Luật TNHH ANP xin tư vấn như sau:

    1. Về chia tài sản chung

    Tài sản chung của vợ chồng bạn được xác định là căn nhà. Đối với quyền sử dụng đất đứng tên chồng bạn được xác lập trước khi kết hôn, mà hai bạn không có thỏa thuận để xác nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung nên Quyền sử dụng đất không được xác định là tài sản chung.

    Do vậy, khi ly hôn hai bên chỉ tiến hành chia tài sản chung là căn nhà.

    2. Về nợ chung

    Đối với số nợ 200 triệu mà hai bạn vay khi xây nhà được xác định là nợ chung thì hai vợ chồng bạn đều có nghĩa vụ trả nợ.

    ;
  • Hà thị sinh nói:
    T với ck t kết hơn năm 2010 và có với nhau 2 đứa con và chúng tôi đã xây nhà trên miếng đất của ck tôi( đất ck t đứng sổ đỏ và có trước khi chúng tôi cưới nhau) vây nhờ t muốn li hôn thì t có được chia tài sản không, khi xây nhà chúng tôi có vậy 200tr;
  • Hà thị sinh nói:
    T với ck t kết hơn năm 2010 và có với nhau 2 đứa con và chúng tôi đã xây nhà trên miếng đất của ck tôi( đất ck t đứng sổ đỏ và có trước khi chúng tôi cưới nhau) vây nhờ t muốn li hôn thì t có được chia tài sản không, khi xây nhà chúng tôi có vậy 200tr;