Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Một số điểm mới của Nghị định 171/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính về giao thông

 
 
 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt được Chính phủ ban hành ngày 13/11/2013, bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/2014
 
 
thay thế cho các Nghị định 34/2010/NĐ-CP, Nghị định 71/2012/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Nghị định 44/2006/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải đường sắt và Nghị định 156/2007/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 44/2006/NĐ-CP.

Trong Nghị định này có một số điểm sửa đổi đáng lưu ý

- Các mức phạt đối với người điều khiển phương tiện xe mô tô, ô tô vi phạm các quy tắc giao thông đường bộ nhìn chung không có thay đổi nhiều hoặc giảm nhẹ so với quy định cũ tại Nghị định 71/2012/NĐ-CP. Tuy nhiên có một số hành vi vi phạm của người đi xe mô tô, ô tô sẽ được giảm nhẹ mức phạt như: nhường đường không đúng quy định, không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, người điều khiển ôtô chạy quá tốc độ trên 35km/h; đi ngược chiều trên đường cao tốc, điều khiển ôtô mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn quá 50 đến 80 miligam/100ml máu hoặc quá 0,25 đến 0,4 miligam/1 lít khí thở…Việc giảm nhẹ mức phạt với đa số các hành vi sẽ được thực hiện từ ngày 01/01/2014, trừ một số hành vi như đỗ xe không đặt biển báo nguy hiểm theo quy định; không làm thủ tục sang tên xe theo đúng quy định thì sẽ lùi thời hạn áp dụng từ 1-3 năm. 

- Một số hành vi vi phạm mới bị sẽ xử phạt như:

+ Người điều khiển, người ngồi trên xe, chở người ngồi trên xe mô tô sẽ bị phạt tiền từ 100.000 đến 200.000 đồng nếu không đội "mũ bảo hiểm dành cho người đi mô tô, xe máy" (Ví dụ: mũ bảo hiểm cho người đi xe đạp, mũ bảo hộ lao động...) hoặc đội "mũ bảo hiểm dành cho người đi mô tô, xe máy" nhưng cài quai không đúng quy cách. (Điểm i, k Khoản 3 Điều 6)
 
+ Người điều khiển xe có liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn giao thông mà không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, không tham gia cấp cứu người bị nạn sẽ bị phạt tiền từ 100.000 đến 200.000 đồng. (Điểm m Khoản 3 Điều 6)
 
+ Người ngồi phía sau vòng tay ra người ngồi trước để điều khiển xe (trừ trường hợp chở trẻ em)…sẽ bị phạt tiền từ 100.000 đến 200.000 đồng. (Điểm n Khoản 3 Điều 6)
 
+ Phạt tiền từ 500.000 đến 1 triệu đồng đối với cá nhân, phạt từ 1 triệu đến 2 triệu đồng đối với tổ chức thực hiện hành vi xếp hàng hóa lên xe ô tô vượt quá trọng tải thiết kế được ghi trong giấy đăng ký xe hoặc giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe. Quy định xử phạt này sẽ được áp dụng từ 1-7-2014. (Khoản 1 Điều 28).
 
+ Đối với vi phạm về không gắn hộp đen trên xe (đối với hình thức kinh doanh vận tải có quy định phải gắn hộp đen), cả lái xe lẫn chủ xe đều bị phạt. Theo quy định tại Nghị định 71/2012 chỉ phạt lái xe với mức phạt từ 2 triệu đến 3 triệu đồng và tước giấy phép lái xe 30 ngày. Tuy nhiên, theo quy định mới, cá nhân kinh doanh vận tải sử dụng phương tiện kinh doanh vận tải không gắn hộp đen hoặc có gắn nhưng thiết bị không hoạt động, không đúng chuẩn theo quy định sẽ bị phạt từ 3 triệu đến 4 triệu đồng. Mức phạt gấp đôi đối với tổ chức. Trong khi đó, tài xế điều khiển xe không gắn hộp đen hoặc có gắn nhưng hộp đen không hoạt động thì bị phạt từ 1 triệu đến 2 triệu đồng (không bị tước giấy phép lái xe).

- Đối với việc xử phạt hành vi không sang tên xe chính chủ:

Chủ phương tiện là cá nhân không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong giấy đăng ký xe sang tên của mình) khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là mô tô, xe máy, các loại xe tương tự xe mô tô sẽ bị phạt từ 100.000 đến 200.000 đồng (mức phạt tương ứng gấp đôi đối với tổ chức). Quy định phạt này áp dụng từ 01/01/2017. Cùng hành vi này đối với xe ô tô, mức phạt với cá nhân từ 1 triệu đến 2 triệu đồng và gấp đôi đối với tổ chức, áp dụng từ 01/01/2015. Như vậy, mức phạt này được giảm rất nhiều so với mức phạt hiện hành trong Nghị định 71/2012 (đối với xe máy phạt từ 800.000 đến 1,2 triệu đồng; xe ô tô phạt từ 6 triệu đến 10 triệu đồng).
 
* Điểm b, khoản 1 Điều 30 quy định như sau: ""Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô"
 
* Khoản 4, Điều 30 quy định như sau: "Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô, từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng, các loại xe tương tự xe ô tô"
 
- Ngoài ra, Nghị định quy định trách nhiệm của Bộ Công an, Bộ Tài chính phải sửa đổi các quy định liên quan đến thủ tục chuyển tên chủ phương tiện theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính, bao gồm cả thủ tục đăng ký sang tên xe tại cơ quan công an và thủ tục nộp lệ phí trước bạ tại cơ quan tài chính, quy định rõ đối tượng có trách nhiệm phải làm thủ tục đăng ký sang tên xe.

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Luật sư tư vấn nói:

    Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Vấn đề bạn hỏi Luật sư Nguyễn Văn Thân Công ty luật Trung Nam Thái - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nôi trả lời như sau:

    Thứ nhất, về quyền yêu cầu ly hôn:

    - Điều 51 luật HN&GĐ 2014 quy định về:  Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

    “1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn…”

    - Theo Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 : Ly hôn theo yêu cầu một bên

    “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

     

              => Căn cứ quy định pháp luật trên thì  bạn hoàn toàn có đủ cơ sở để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết cho ly hôn đơn phương.

     

    Thứ hai, về quyền nuôi con: 

    - Theo Luật Hôn Nhân và Gia đình 2014, Điều 81: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

    “1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

    1. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
    2. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

    Với trường hợp của bạn, có 2 con trai:  1 cháu 5 tuổi , 1 cháu 8 tuổi,  theo quy định tại K2 điều trên thì bé trai 8 tuổi sẽ được giao cho bố hoặc mẹ tùy theo nguyện vọng của con muốn ở với ai.  Tuy nhiên, việc xác định quyền  nuôi con còn phụ thuộc vào việc  bạn  chứng minh được những yếu tố sau:

    +,  Điều kiện kinh tế: Chứng minh được điều kiện kinh tế ổn định của bạn  so với cha đứa trẻ để phục vụ nhu cầu ăn, ở, sinh hoạt, học tập, vui chơi của con thông qua bình quân thu nhập hàng tháng. Mức độ công việc định để đảm bảo điều kiện nuôi con tốt nhất.

    +, Thời gian chăm sóc , giáo dục, dạy dỗ con: Việc cha, mẹ dành thơi gian quan tâm chăm sóc con cái là một việc vô cùng quan trọng để con cảm thấy được bao bọc, được yêu thương. Điều đó càng cần thiết khi trẻ đến tuổi dậy thì, đây là giai đoạn trẻ thay đổi về tâm sinh lý một cách phức tạp. Sự quan tâm chăm sóc đầy đủ hơn sẽ giúp cho con cái bạn phát triển một cách khoẻ mạnh, tránh xa được những rắc rối và học tập tốt ở trường trong giai đoạn nhạy cảm này.

    +,  Nhân cách đạo đức tốt để con cái tiếp xúc với những hành vi, cử chỉ đẹp

     

    Thứ ba, thủ tục yêu cầu ly hôn:

    - Hồ sơ gồm có:

     + Đơn yêu cầu/ đơn khởi kiện(Theo mẫu) kèm theo các tài liệu chứng cứ để chứng minh.

    + Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

    + CMND và hộ khẩu;

    + Giấy khai sinh các con;

    + Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; Sổ tiết kiệm…

     

    - Thủ tục: Các bước tiến hành thủ tục ly hôn như sau:

    +, Bước 1: Nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND có thẩm quyền;
     
    +, Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ trong thời hạn khoảng 7-15 ngày, Tòa án kiểm tra đơn và nếu đầy đủ thì Tòa thông báo nộp tiền tạm ứng án phí;
     
    +, Bước 3: Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại cơ quan thi hành ádân sự có thẩm quyềnvà nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;
     
    +, Bước 4: Tòa án sẽ triệu tập lấy lời khai, hòa giải và tiến hành thủ tục theo quy định pháp luật.
     
    +, Bước 5: Trong trường hợp, Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn, người yêu cầu ly hôn có quyền kháng cáo để Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử phúc thẩm theo quy định pháp luật.

    ;
  • Phạm Thị Hường nói:
    Em kết hôn được 10 năm và có 2 con trai 8t &5t. Do rất nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống khiến em muốn ly hôn . Nhưng điều em quan tâm nhất là làm thế nào để em có quyền nuôi cả 2 cháu , trong trường hợp bố cháu không đồng ý cho mẹ nuôi cả 2. Chồng em không có thu nhập ổn định . Trong khi đó em có thu nhập ổn định trên >12t / 1 tháng như vậy có đủ điều kiện thuận lợi dành quyền nuôi con không? Và thủ tục cần những gì ? Rất mong quý luật sư tư vấn giúp em.;
  • nguyễn đai trung nói:
    Bố mẹ tôi có 7 con, 4 trai, 3 gái. bố tôi mua miếng đất 500 m trên có nhà 1 tầng ở Bắc Ninh. Bố tôi mất năm 1993 không để lại di chúc. xin hỏi người thế kếtheo pháp luật là những ai ? Năm 2015 mẹ tôi cho em trái út làm nhà đến hơn nửa đất (cộng sân để oto). xin hỏi đúng hay sai ? phần còn lại họp gia đình đều thống nhất là đất của những người còn lại và làm nhà thờ , xin hỏi đất này sẽ đứng tên ai ? mẹ tôi định chủ định anh trai lớn đứng tên , xin hỏi đúng hay sai ?;
  • Luật sư tư vấn nói:

    Thứ nhất, người thừa kế theo pháp luật:

    Vì bố bạn mất không để lại di chúc nên di sản này được  chia theo quy định của pháp luật như sau:

    - Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết và người thừa kế theo pháp luật được quy định tại điều 651 BLDS :

     “a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết…”

    - Bố bạn có mua một mảnh đất 500m2 trên có nhà một tầng ở Bắc Ninh, do vậy khi bố bạn mất di sản của bố bạn để lại sẽ chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, cụ thể là vợ ( mẹ bạn)  và 7 người con (4 trai, 3 gái).

    Thứ hai, mẹ bạn cho e trai út làm nhà hơn nửa đất( bao gồm sân để ô tô):

    Trước hết, muốn xác định việc làm của mẹ bạn đúng hay trái với quy định của pháp luật căn cứ :

    - Nếu đó là tài sản chung của bố mẹ bạn, theo pháp luật, mẹ bạn sẽ có ½ mảnh đất 500m2, còn ½ diện tích  đất còn lại (250m 2) tài sản của bố bạn để lại sau khi chết sẽ được chia theo pháp luật :hàng thừa kế thứ nhất bao gồm : vợ ( mẹ bạn) và 7 người con. Khi đó, nếu phần đất mẹ bạn cho em trai út để làm nhà thuộc sở hữu của mẹ bạn thì việc làm đó là đúng

    - Nếu đó là tài sản riêng của bố bạn , sau khi chết ông không để  lại di chúc nên di sản chia theo pháp luật,  những người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 651 BLDS được quy định theo thứ tự sau đây:

    “ a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết…..”

    Do vậy, tài sản sẽ được chia đều cho vợ( mẹ bạn) và 7 người con. Việc mẹ bạn cho trai út làm nhà đến hơn nửa đất( sân để ô tô) là trái quy định của pháp luật.

    Thứ ba, phần còn lại họp gia đình đều thống nhất là đất của những người còn lại và làm nhà thờ sẽ đứng tên ai?Việc mẹ bạn chỉ định anh trai lớn đứng tên đúng hay sai

    Đây không phải là di sản dùng vào việc thờ cúng theo di chúc ( DD645 BLDS) mà là di sản được để lại vào được những người thừa kế theo pháp luật thỏa thuận để làm nhà thờ. Do vậy, việc ai đứng tên cũng sẽ dựa vào sự thỏa thuận giữa những người thừa kế theo pháp luật với nhau.

    ;
  • phan văn sơn nói:
    tư vấn giúp e.bố và mẹ em đã ly hôn e có 1 e trai theo quyết định của tòa án.e ở với bố e trai e ở với mẹ.và bố em phải bồi thường cho mẹ 1 khoản tiền chênh lệch.gd e có 2 mảnh đất chia cho bố 1 mảnh đất cho mẹ 1 mảnh đất.cộng thêm bố e phải trả 1 khoản nợ mà bố với mẹ đã vay mượn.nhưng giờ bố e đã mất và chưa bồi thường cho mẹ số tiền chênh lệch ấy.cho e hoi giờ bố e đã mất vậy e có quyền được thừa hưởng và đứng tên quyền sử dụng đất của bố e không ạ. và em làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất thì có liên quan đến số tiền chênh lệch mà bố phải bồi thường cho mẹ không ạ.làm ơn tư vấn giúp e vì em không có thời gian nữa ạ;