Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Quy trình giải quyết tai nạn giao thông khi có dấu hiệu tội phạm và vi phạm pháp luật

Quyết định này thay thế Quyết định số 30/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 16/01/2003 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ, Quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường sắt.
 
 
Trong quá trình giải quyết tai nạn giao thông nếu phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc vi phạm pháp luật, quá trình xử lý được thực hiện như sau:

Khởi tố vụ án và chuyển cho cơ quan điều tra có thẩm quyền

1. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, qua điều tra giải quyết vụ tai nạn giao thông, xác định có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra, thì Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Trưởng Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; khẩn trương củng cố tài liệu, hồ sơ và chuyển cho đơn vị điều tra tội phạm về trật tự xã hội có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố. Khi chuyển hồ sơ và vật chứng (nếu có) của vụ án, phải lập biên bản bàn giao theo quy định; Cảnh sát giao thông phải sao toàn bộ hồ sơ lưu để theo dõi, thống kê phục vụ chế độ thông tin báo cáo theo quy định của Bộ Công an.
 
2. Cảnh sát giao thông cấp huyện, qua điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông, xác định có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra cấp huyện, thì chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện nơi xảy ra tai nạn ra quyết định khởi tố vụ án và tiến hành điều tra theo thẩm quyền.
 
3. Qua điều tra giải quyết vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng không có người chết, xác định không có dấu hiệu tội phạm thì Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Trưởng Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt ra quyết định không khởi tố vụ án hoặc Cảnh sát giao thông cấp huyện đề nghị Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện ra quyết định không khởi tố vụ án để xử lý hành chính theo Điều 17 Quy trình này.

Xử lý hành chính vụ tai nạn giao thông và va chạm giao thông

1. Mời các bên liên quan hoặc đại diện hợp pháp của họ đến trụ sở đơn vị để thông báo kết quả điều tra, kết luận nguyên nhân của vụ tai nạn và xác định lỗi của những người có liên quan trong vụ tai nạn, hình thức giải quyết. Cho các bên liên quan phát biểu ý kiến của họ. Mọi ý kiến đều được ghi vào biên bản giải quyết vụ tai nạn giao thông và có chữ ký của các bên liên quan đến tai nạn giao thông.
 
2. Lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định hoặc đề xuất lãnh đạo có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
 
3. Sau khi cá nhân bị xử phạt thực hiện xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cán bộ thụ lý lập biên bản trả lại phương tiện giao thông (nếu phương tiện còn đang bị tạm giữ), đồ vật và các giấy tờ đã tạm giữ cho người bị xử phạt; thu biên lai tiền phạt ghim vào góc bên trái quyết định xử phạt, lưu trong hồ sơ vụ tai nạn giao thông.
 
4. Giải quyết việc khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại giữa các bên liên quan trong vụ tai nạn giao thông khi các bên có yêu cầu đòi bồi thường:
- Trường hợp các bên liên quan tự thương lượng thỏa thuận khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại thì phải có bản cam kết thống nhất thỏa thuận về mức và hình thức bồi thường thiệt hại giữa các bên; ký và ghi rõ họ, tên những người liên quan. Thỏa thuận bồi thường thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ khi xem xét ra quyết định xử lý hành chính;
- Trường hợp các bên liên quan trong vụ tai nạn giao thông không tự thỏa thuận thương lượng được với nhau thì Cảnh sát giao thông có trách nhiệm hướng dẫn các bên liên hệ với Tòa án để giải quyết theo thủ tục dân sự.

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Nguyễn Hà nói:
    Nguoi me nhan duoc Quyet dinh của Toa an ve quyen nuoi con, nhung khong co du dieu kien nuoi con, thi co the lam bien ban thoa thuan tra lai quyen nuoi con cho nguoi cha duoc k?;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Theo Điều 84 Luật hôn nhân gia đình 2014, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ: (1) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; (2) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Đối với con từ 07 tuổi trở lên việc thay đổi này phải xem xét nguyện vọng của con. Như vậy nếu trẻ nhà bạn nhỏ hơn 7 tuổi thì bạn hai vợ chồng có thể thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cho người cha, trong trường hợp con từ đủ 07 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của con, xem con muốn ở cùng ai. Tuy nhiên không phải con muốn ở với ai cũng được, mà đó chỉ là một căn cứ để xem xét thêm, việc thay đổi này sẽ dựa vào sự phù hợp, có lợi nhất cho con.;
  • phan văn sơn nói:
    tư vấn giúp e.bố và mẹ em đã ly hôn e có 1 e trai theo quyết định của tòa án.e ở với bố e trai e ở với mẹ.và bố em phải bồi thường cho mẹ 1 khoản tiền chênh lệch.gd e có 2 mảnh đất chia cho bố 1 mảnh đất cho mẹ 1 mảnh đất.cộng thêm bố e phải trả 1 khoản nợ mà bố với mẹ đã vay mượn.nhưng giờ bố e đã mất và chưa bồi thường cho mẹ số tiền chênh lệch ấy.cho e hoi giờ bố e đã mất vậy e có quyền được thừa hưởng và đứng tên quyền sử dụng đất của bố e không ạ. và em làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất thì có liên quan đến số tiền chênh lệch mà bố phải bồi thường cho mẹ không ạ.làm ơn tư vấn giúp e vì em không có thời gian nữa ạ;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Bên cạnh đó, Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Trường hợp đối với người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự; trừ các giao dịch liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của pháp luật thì phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Và người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên là mẹ của bạn. Như vậy thì nếu bạn chưa đủ 18 tuổi thì các giao dịch liên quan đến bất động sản phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật đồng ý (mẹ bạn), vì vậy bằng cách phải chờ đến khi đủ 18 tuổi thì bạn mới được tham gia giao dịch liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngoài ra, nếu như bạn còn có ông bà nội còn sống thì ông bà bạn cũng được hưởng ngang nhau di sản thừa kế đó.;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Đây là trường hợp bố bạn không để lại di chúc, thì chúng tôi sẽ giải quyết theo pháp luật như sau: Giả sử bố mẹ bạn có một mảnh đất có giá trị 2 tỷ, sau khi ly hôn mỗi người được một mảnh đất có giá trị như nhau là 1 tỷ, bố bạn nợ mẹ bạn và giá trị khoản nợ là 100 triệu. Bố bạn mất để lại tài sản là mảnh đất có giá trị 1 tỷ và một khoản nợ 100 triệu. Theo nguyên tắc thì số tài sản đó sẽ được trả cho người nợ trước, tức là sẽ trả cho mẹ bạn 100 triệu, còn lại 900 triệu. Bố bạn có hai người con ruột là bạn và em trai bạn, như vậy sau khi ông mất thì tài sản sẽ được chia cho bạn và em trai bạn với giá trị ngang nhau, mỗi người một nửa mảnh đất trị giá 450 triệu. Bạn được làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất với mảnh đất trị giá 450 triệu đó. Nếu như bạn không muốn chia mảnh đất đó và muốn được quyền sử dụng tất cả mảnh đất trị giá 1 tỷ đó thì bạn có thể trả cho mẹ bạn 100 triệu và em trai của bạn 450 triệu. Sau khi trả hết nợ hoặc thỏa thuận thành công thì bạn có thể sang tên mảnh đất.;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Bạn là người Việt Nam, vợ bạn là người nước ngoài thì phải dựa vào nơi cư trú của hai vợ chồng lúc làm thủ tục ly hôn. Trường hợp thứ nhất, bạn và vợ cùng cư trú tại Việt Nam thì việc ly hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam thì được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ chồng bạn sinh sống. Tại đây, Thủ tục thực hiện như những vụ việc ly hôn thông thường bằng cách nộp đơn ly hôn lên tòa án nhân dân cấp huyện. Trường hợp thứ hai, nếu hai vợ chồng anh chị là công dân Việt Nam nhưng không thường trú tại Việt Nam ở thời điểm ly hôn thì được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng, thì ở trường hợp này, thủ tục ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật nước ngoài. Trường hợp 3,nếu hai người không có nơi thường trú chung, bạn cư trú ở Việt Nam nhưng vợ cư trú ở nước ngoài thì có thể được giải quyết theo pháp luật Việt Nam, thì việc ly hôn có thể được thực hiện theo thủ tục ly hôn của pháp luật Việt Nam, nhưng sẽ thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh.;
  • trần hải nam nói:
    Tôi muốn hỏi thủ tục ly hôn với người nước ngoài;
  • Ngô tuấn cảnh nói:
    Luật sư cho e hỏi chút ạ e đc 8 tuổi thì mẹ e kết hôn lần 2 năm 1999 e ở với mẹ và bố dượng đến năm 2014 thì mẹ mất năm 2015 bố dượng e tự ý cắt khẩu của e mà kon thông báo cho e vậy bố e có vi phạm nhân quyền và quyền thừa kế hay kon ? Và e có được hưởng tài sản thừa kế hay kon ?;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Chào anh Cảnh! Theo quy định pháp luật Cư trú thì: Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xoá đăng ký thường trú: a) Chết, bị Toà án tuyên bố là mất tích hoặc đã chết; b) Được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở tập trung trong doanh trại; c) Đã có quyết định huỷ đăng ký thường trú quy định tại Điều 37 của Luật này; d) Ra nước ngoài để định cư; đ) Đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ. Như vậy, nếu không thuộc các trường hợp trên thì anh chỉ bị cắt khẩu khi có sự đồng ý của anh. Để đăng ký thường trú, anh phải có chỗ ở hợp pháp, nếu chỉ có đất nông nghiệp mà không có nhà ở thì không được coi là có chỗ ở hợp pháp và không đủ điều kiện đăng ký thường trú tại đó. Như vậy, việc cắt khẩu của bố dượng anh là sai pháp luật. Còn xét về việc hưởng tài sản thừa kế, theo điều 654 BLDS, nếu con riêng và bố dượng có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con thì vẫn được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế theo thừa kế thế vị và thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi.;
  • Nguyễn Thị Thái nói:
    Gia đình tôi chỉ có mẹ và 2 con gái,tôi đã có gia đình và ở riêng,vc em gái tôi ở chung với mẹ tại ngôi nhà của mẹ. Trước khi mất ba tôi có làm giấy xác nhận ngôi nhà là tài sản riêng của mẹ tôi,cách đây 2 năm mẹ tôi bị tai biến liệt 1/2 người,đầu óc không đc mình mẫn lắm,vc em gái tôi nói gì thì làm đó,đã đưa mẹ tôi ra cơ quan công chứng di chúc để lại toàn bộ ngôi nhà cho vc em gái tôi,nay tôi biết đc sự việc nên muốn hỏi luật sư tôi phải làm thế nào để đòi quyền lợi chính đáng của mình hoặc tôi phải làm các thủ tục gì để đc khởi kiện hay khiếu nại gì để đc hưởng 1/2 tài sản của mẹ tôi. Tôi xin cảm ơn ạ;