Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Quy định về bồi thường đối với nhà ở, công trình trên đất khi bị nhà nước thu hồi đất như sau:

Quy định về bồi thường đối với nhà ở, công trình trên đất khi bị nhà nước thu hồi đất như sau:
 
1.Quy định chung
 
a. Khi bồi thường đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân, được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban hành. Giá trị xây dựng mới của nhà, công trình được tính theo diện tích xây dựng của nhà, công trình nhân với đơn giá xây dựng mới của nhà, công trình do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành theo quy định của Chính phủ.
 
b. Đối với nhà, công trình xây dựng khác không thuộc đối tượng nêu trên được bồi thường như sau:
 
- Mức bồi thường nhà, công trình bằng tổng giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại và khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình; Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định bằng tỷ lệ phần trăm chất lượng còn lại của nhà, công trình đó nhân với giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành. Khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng mức bồi thường tối đa không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại.
 
 
- Đối với nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, mà phần còn lại không còn sử dụng được thì được bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình; trường hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, nhưng vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì được bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ.
 
c. Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đang sử dụng thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật cùng cấp theo tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành; nếu công trình không còn sử dụng thì không được bồi thường. Trong trường hợp công trình hạ tầng thuộc dự án phải di chuyển mà chưa được xếp loại vào cấp tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc sẽ nâng cấp tiêu chuẩn kỹ thuật thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thống nhất với cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư dự án để xác định cấp tiêu chuẩn kỹ thuật để bồi thường.
 
2.Bồi thường tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp:
  
 
a. Nhà nước sẽ không bồi thường trong các trường hợp sau: 
 
- Nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân, được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban hành;
 
- Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp: Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm; Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;
 
- Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế
 
 
- Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn
 
b. Xử lý đổi với trường hợp tài sản gắn liền với đất khi thu hồi đối với trường hợp sau:
 
- Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;
 
- Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả;
 
- Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;
 
- Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;
 
- Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước;
 
- Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười tám tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn tháng liền;
 
- Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép.
 thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2, 3, 5, 8, 9, 11 và 12 Điều 38 của Luật Đất đai
 
Việc xử lý tài sản đối với các trường hợp nêu trên áp dụng  theo quy định tại Điều 35 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (sau đây gọi là Nghị định số 181/2004/NĐ-CP).cụ thể như sau: 
 
- Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi đất thành lập Hội đồng định giá để xác định phần giá trị còn lại của tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tài sản đã đầu tư trên đất đối với trường hợp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền đầu tư trên đất không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; phần giá trị còn lại đó thuộc sở hữu của người bị thu hồi đất. Trường hợp đất do Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, do Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm, do Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất hoặc do Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc do Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất cho nhiều năm mà tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì chỉ có phần giá trị còn lại đã đầu tư trên đất mà không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thuộc sở hữu của người bị thu hồi đất.
 
- Phần giá trị còn lại của tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất thuộc sở hữu của người bị thu hồi đất được giải quyết theo quy định sau:
 
+ Trường hợp đất bị thu hồi thuộc khu vực đô thị hoặc khu vực quy hoạch phát triển đô thị mà giao cho tổ chức phát triển quỹ đất thì tổ chức phát triển quỹ đất có trách nhiệm trả cho người bị thu hồi đất; ở những nơi chưa có tổ chức phát triển quỹ đất thì do ngân sách của cấp quản lý đất sau khi thu hồi trả cho người bị thu hồi đất;
 
+ Trường hợp đất bị thu hồi thuộc khu vực nông thôn mà giao cho Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn để quản lý hoặc để bổ sung vào quỹ đất công ích thì Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm trả cho người bị thu hồi đất;
 
-  Trường hợp đất bị thu hồi được Nhà nước giao cho người khác hoặc cho người khác thuê thì người được giao đất, thuê đất có trách nhiệm trả cho người bị thu hồi đất.
 
- Trường hợp đất bị thu hồi thuộc nhóm đất phi nông nghiệp được tham gia thị trường bất động sản thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi đất được áp dụng hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, tài sản đã đầu tư trên đất và giải quyết phần giá trị còn lại của tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất thuộc sở hữu của người bị thu hồi đất theo quy định sau:
 
+  Nếu số tiền thu được do đấu giá sau khi trừ chi phí tổ chức việc đấu giá mà thấp hơn phần giá trị còn lại thuộc sở hữu của người bị thu hồi đất thì người bị thu hồi đất được nhận lại toàn bộ số tiền đó;
 
+ Nếu số tiền thu được do đấu giá sau khi trừ chi phí tổ chức việc đấu giá mà cao hơn hoặc bằng phần giá trị còn lại thuộc sở hữu của người bị thu hồi đất thì người bị thu hồi đất được nhận phần giá trị còn lại thuộc sở hữu của mình; phần chênh lệch được nộp vào ngân sách nhà nước.
 
- Trường hợp thu hồi đất do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì tiền nhận chuyển nhượng, giá trị còn lại của tài sản đã đầu tư trên đất được giải quyết như đối với trường hợp thu hồi đất do được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất
 
- Trường hợp thu hồi đất mà người bị thu hồi đất đã cho thuê đất, thế chấp, bảo lãnh hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất thì quyền lợi của người thuê đất, nhận thế chấp, nhận bảo lãnh hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất được giải quyết theo quy định tại Điều 65 của Nghị định 181 CP của Chính phủ về thu hồi đất.

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • huynh thanh van nói:
    tỏi vay tiền của bà Thoa là 10 triệu tôi đóng lại hàng tháng là 6% và tôi đã trả 1.500.000 tiền gốc nên tôi còn nó là 8.500.000 đ.. Bà thoa chửi và nhục mà tôi nên hai bên cũng xảy ra tranh chấp gởi đơn tới cơ quan nhưng qua thời gian bớt giận tôi trả dần vốn cho bà thoa tổng cộng là 7500000d, tôi nó lại 1 triệu bà thoa có ghi biên nhận nhận tiền của tôi. Khoảng 2 tuần sau tôi nói với bà thoa là tôi bị mất biên nhận rồi còn thiếu 1 triệu cuối tháng 9/2017 tới trả khi lấy tiền nhờ đem biên nhận gốc để trả lại tôi. Đến ngày hẹn bà thoa đến lấy tiền nhưng không mang theo biên nhận nên tôi không đưa tiền cho bà thoa, Ba thỏa nhục mà tôi đủ điều còn xuống tận cơ quan chồng tôi để gặp lãnh đạo của chồng tôi đòi nợ và bây giờ đã khởi kiện tôi ra tòa án và buộc tôi trả lại từ tháng 1/2016 và trả gốc là 8.200.000đ . den toa toi dem bien nhan nhan tien cua toi do ba thoa ghi dua cho toi, ba thoa khong thua nhan la co ghi bien nhan cho toi va noi toi chua tr tien cho ba .toi co luu giu mot so chung tu co chu viet va chu ky cua ba thoa. xin cho toi biet su viec do toi phai lam the nao? xin chân thành cảm ơn;
  • huynh thanh van nói:
    tỏi vay tiền của bà Thoa là 10 triệu tôi đóng lại hàng tháng là 6% và tôi đã trả 1.500.000 tiền gốc nên tôi còn nó là 8.500.000 đ.. Bà thoa chửi và nhục mà tôi nên hai bên cũng xảy ra tranh chấp gởi đơn tới cơ quan nhưng qua thời gian bớt giận tôi trả dần vốn cho bà thoa tổng cộng là 7500000d, tôi nó lại 1 triệu bà thoa có ghi biên nhận nhận tiền của tôi. Khoảng 2 tuần sau tôi nói với bà thoa là tôi bị mất biên nhận rồi còn thiếu 1 triệu cuối tháng 9/2017 tới trả khi lấy tiền nhờ đem biên nhận gốc để trả lại tôi. Đến ngày hẹn bà thoa đến lấy tiền nhưng không mang theo biên nhận nên tôi không đưa tiền cho bà thoa, Ba thỏa nhục mà tôi đủ điều còn xuống tận cơ quan chồng tôi để gặp lãnh đạo của chồng tôi đòi nợ và bây giờ đã khởi kiện tôi ra tòa án và buộc tôi trả lại từ tháng 1/2016 và trả gốc là 8.200.000đ . den toa toi dem bien nhan nhan tien cua toi do ba thoa ghi dua cho toi, ba thoa khong thua nhan la co ghi bien nhan cho toi va noi toi chua tr tien cho ba .toi co luu giu mot so chung tu co chu viet va chu ky cua ba thoa. xin cho toi biet su viec do toi phai lam the nao? xin chân thành cảm ơn;
  • huynh thanh van nói:
    tỏi vay tiền của bà Thoa là 10 triệu tôi đóng lại hàng tháng là 6% và tôi đã trả 1.500.000 tiền gốc nên tôi còn nó là 8.500.000 đ.. Bà thoa chửi và nhục mà tôi nên hai bên cũng xảy ra tranh chấp gởi đơn tới cơ quan nhưng qua thời gian bớt giận tôi trả dần vốn cho bà thoa tổng cộng là 7500000d, tôi nó lại 1 triệu bà thoa có ghi biên nhận nhận tiền của tôi. Khoảng 2 tuần sau tôi nói với bà thoa là tôi bị mất biên nhận rồi còn thiếu 1 triệu cuối tháng 9/2017 tới trả khi lấy tiền nhờ đem biên nhận gốc để trả lại tôi. Đến ngày hẹn bà thoa đến lấy tiền nhưng không mang theo biên nhận nên tôi không đưa tiền cho bà thoa, Ba thỏa nhục mà tôi đủ điều còn xuống tận cơ quan chồng tôi để gặp lãnh đạo của chồng tôi đòi nợ và bây giờ đã khởi kiện tôi ra tòa án và buộc tôi trả lại từ tháng 1/2016 và trả gốc là 8.200.000đ . den toa toi dem bien nhan nhan tien cua toi do ba thoa ghi dua cho toi, ba thoa khong thua nhan la co ghi bien nhan cho toi va noi toi chua tr tien cho ba .toi co luu giu mot so chung tu co chu viet va chu ky cua ba thoa. xin cho toi biet su viec do toi phai lam the nao? xin chân thành cảm ơn;
  • tạ văn nguyên nói:
    cho e hỏi.ông nội e khi lấy bà e sinh đc 1 mình bố e gia đình bà nội cho ông bà mảnh dất.sau đó bà mất ông đi lấy vợ hai.sinh đc 3người con gái.sau đó ông cho bà hai về xây nhà trên mảnh đất của gia đình bà nội cho.trước khi ông mất ông có để lại di chúc là cho bà hai sử dụng ba gian nhà ông bà cất lên còn phần đất thì bà hai không được quyền sử dụng hay mua bán.vậy theo pháp lý bố em được quyền lam sổ đỏ sử dụng mảnh đất đó không;
  • tạ văn nguyên nói:
    cho e hỏi.ông nội e khi lấy bà e sinh đc 1 mình bố e gia đình bà nội cho ông bà mảnh dất.sau đó bà mất ông đi lấy vợ hai.sinh đc 3người con gái.sau đó ông cho bà hai về xây nhà trên mảnh đất của gia đình bà nội cho.trước khi ông mất ông có để lại di chúc là cho bà hai sử dụng ba gian nhà ông bà cất lên còn phần đất thì bà hai không được quyền sử dụng hay mua bán.vậy theo pháp lý bố em được quyền lam sổ đỏ sử dụng mảnh đất đó không;
  • tạ văn nguyên nói:
    cho e hỏi.ông nội e khi lấy bà e sinh đc 1 mình bố e gia đình bà nội cho ông bà mảnh dất.sau đó bà mất ông đi lấy vợ hai.sinh đc 3người con gái.sau đó ông cho bà hai về xây nhà trên mảnh đất của gia đình bà nội cho.trước khi ông mất ông có để lại di chúc là cho bà hai sử dụng ba gian nhà ông bà cất lên còn phần đất thì bà hai không được quyền sử dụng hay mua bán.vậy theo pháp lý bố em được quyền lam sổ đỏ sử dụng mảnh đất đó không;
  • Bùi Ngọc Văn nói:
    Tranh chấp ranh giới đất bị chồng lấn. Nguyên đơn kiện ra toà. Hai bên đều có giấy công nhận quyền sử dụng đất do UBND thi xã cấp . Đến cuối năm 2011, thị xã có quyết định thu hồi đất. Bị đơn đã giao đất và nhận tiền bồi thường trong năm 2011. Đến cuối năm 2015 nguyên đơn mới đo đạc lại đất thấy đất bị chồng lấn. Năm 2016 nguyên đơn khởi kiện ra toà án. Đến toà đang thụ lý hồ sơ trong giai đoạn hoàn giải. Đề nghị giúp yếu kiến cho bị sẽ xử lý việc này như thế nào? Khi mà đất của bị đơn đã giao UBND thị xã sau khi đã nhận tiền bồi thường vào năm 2011. Đất này đã phân lô và cấp cho dân. Trân trọng cám ơn.;
  • Bùi Ngọc Văn nói:
    Tranh chấp ranh giới đất bị chồng lấn. Nguyên đơn kiện ra toà. Hai bên đều có giấy công nhận quyền sử dụng đất do UBND thi xã cấp . Đến cuối năm 2011, thị xã có quyết định thu hồi đất. Bị đơn đã giao đất và nhận tiền bồi thường trong năm 2011. Đến cuối năm 2015 nguyên đơn mới đo đạc lại đất thấy đất bị chồng lấn. Năm 2016 nguyên đơn khởi kiện ra toà án. Đến toà đang thụ lý hồ sơ trong giai đoạn hoàn giải. Đề nghị giúp yếu kiến cho bị sẽ xử lý việc này như thế nào? Khi mà đất của bị đơn đã giao UBND thị xã sau khi đã nhận tiền bồi thường vào năm 2011. Đất này đã phân lô và cấp cho dân. Trân trọng cám ơn.;
  • le thien nói:
    Cho hoi la ...nay ba noi gia roi muôn san nhượng nha lai cho con đang sống chung.nha co 4 ae .3 ngươi kia đều ra riêng het roi.khi lam giây ki tên sang nha thi nay ngươi con lơn đã mất. nhưng tôi len lay giây chưng tử thi tui con anh tôi ko chịu đưa giấy .Tui no đôi chia tai san .vay xin cho hoi nêu nhu vay co lam giây sang nhượng nha dc k .;
  • le thien nói:
    Cho hoi la ...nay ba noi gia roi muôn san nhượng nha lai cho con đang sống chung.nha co 4 ae .3 ngươi kia đều ra riêng het roi.khi lam giây ki tên sang nha thi nay ngươi con lơn đã mất. nhưng tôi len lay giây chưng tử thi tui con anh tôi ko chịu đưa giấy .Tui no đôi chia tai san .vay xin cho hoi nêu nhu vay co lam giây sang nhượng nha dc k .;