Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Tài sản chung của vợ, chồng

Tài sản chung của vợ chồng trước hết phải là những tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân. 

 

Khi một quan hệ hôn nhân ra đời không chỉ làm hình thành những quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng mà còn làm phát sinh quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng trong quá trình chung sống. Tài sản là cơ sở vật chất để thực hiện chức năng kinh tế và đáp ứng nhu cầu đa dạng trong đời sống của một gia đình.

 

Theo quy định tại Điều 27 LHN&GĐ thì tài sản chung của vợ chồng gồm:

 

- Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh, doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản chung của vợ chồng trước hết phải là những tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân. Như vậy, mọi tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác (tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng thưởng xổ số…) của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đều được coi là tài sản chung của vợ chồng.

 

- Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung.

 

- Những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung. Trong thực tế cuộc sống, có những tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng do vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn hoặc do được thừa kế riêng, được tặng cho riêng. Những tài sản này sẽ trở thành tài sản chung của vợ chồng nếu vợ chồng có thoả thuận và đồng ý nhập vào khối tài sản chung.

 

Riêng đối với loại tài sản đặc biệt, có giá trị lớn, có tính chất đặc thù, đó là quyền sử dụng đất, Điều 27 LHN&GĐ quy định: Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng; quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi có thỏa thuận. Quy định này bảo đảm sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ về tài sản. Ngoài ra, để thuận lợi trong việc xác định tài sản chung, riêng của vợ chồng khi vợ chồng xảy ra tranh chấp về tài sản thì trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung của vợ chồng.

 

Tài sản chung của vợ chồng thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất. Theo quy định của BLDS, sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.

 

Những tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu như: nhà ở, quyền sử dụng đất, xe ô tô, tàu, thuyền... thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với những tài sản trên có ghi tên của cả vợ và chồng.

 

Quyền đối với tài sản chung của vợ và chồng được xác định trên cơ sở bình đẳng, thể hiện ở ba quyền năng là các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản chung. Vợ cũng như chồng đều có quyền nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu chung, đều có quyền khai thác công dụng, hưởng lợi ích từ tài sản cũng như định đoạt số phận của tài sản đó.

 

Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình (như mua sắm thực phẩm, đồ gia dụng, tham gia các dịch vụ giải trí, du lịch, hưởng thụ văn hoá, văn nghệ...) và thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng (như nghĩa vụ trả nợ vay, mượn để chi phí cho nhu cầu chung của gia đình).

 

Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn (giá trị lớn của tài sản được xác định căn cứ vào phần giá trị của tài sản đó trong khối tài sản chung của vợ chồng) hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng. Vì tầm quan trọng của những tài sản chung này mà pháp luật quy định khi xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến chúng phải được bàn bạc, thỏa thuận, thống nhất giữa vợ chồng. Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung nêu trên mà không có sự đồng ý của một bên, thì bên đó có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu.

 

 

 

 

 

 

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Hồng lap nói:
    Xin chào tui và chong toi lay nhau đi 7 năm và đã có 2 đứa con cuộc sống Gđ không hanh phúc anh ấy suốt ngày ngoại tình tui ko chiu đc muốn ly hon nhung anh ấy ko chịu tui muốn đon phương ly hôn thì can lm thế nào và thủ tục thế nào ạ;
  • Ho Thanh Phuong nói:
    Nam 2004 to nop ho so lam so do. Lúc do toi LA chu ho. Nen chinh quyen cap so do dung ten toi. Vay so do do Co hop phap khong?;
  • Ho Thanh Phuong nói:
    Nam 2004 to nop ho so lam so do. Lúc do toi LA chu ho. Nen chinh quyen cap so do dung ten toi. Vay so do do Co hop phap khong?;
  • Ngo thăng nói:
    Di công chung di chuc thua ke tai san mang so do pho to co duoc khong? Vi so do da the chap ngan hang vay tien roi;
  • Ngo thăng nói:
    Di công chung di chuc thua ke tai san mang so do pho to co duoc khong? Vi so do da the chap ngan hang vay tien roi;
  • Phạm thị kim bích nói:
    Ba ,mẹ tôi mất ko để lại di chúc,chỉ có miếng đất có 3 căn nhà ,3 anh em tôi ở và miếng đất chưa có ra chủ quyền,2 anh tôi đã ra công chứng cho tôi và tôi đã ra chủ quyền miếng đất với căn nhà tôi đang ở,và 1 anh đã mất,còn lại 1anh đã li thân với vợ hơn 20 năm,giờ vợ anh tôi kiện lên phường đòi chia tài sản,có đúng ko;
  • Nguyễn thị ngọc hân nói:
    Ba tôi mất có để lại đất và nhà ở gắn liền với đất do ba mẹ tôi cùng đứng tên. Giờ chị em tôi từ bỏ quyền thừa kế để mẹ tôi được hưởng tài sản đó. Trong quá trình làm thủ tục thì giấy chứng tử của ông nội tôi và ba tôi họ lại không giống nhau ( ông nội họ phan, ba họ nguyễn). Vậy thì phải làm thế nào để giải quyết vấn đề họ không giống nhau?. Theo như tìm hiểu của tôi thì cả dòng họ của gia đình tôi trên các giấy tờ có liên quan đều mang họ nguyễn nhưng không biết vì sao khi Anh con của bác tôi đi đăng kí khai tử cho ông nội tôi lại thành họ phan. Tôi trình vấn đề này cho bộ phận tư Pháp của UBND xã để giải quyết, họ yêu cầu tôi cung cấp các giấy tờ mang họ nguyễn của ông nội tôi nhưng mà các giấy tờ của ông nội tôi đều mất hết chỉ còn lại trên giấy khai sinh của ba tôi là có tên của ông tôi mang họ nguyễn. Trong trường hợp này thì tôi phải làm thế nào để giấy chứng tử của ông nội tôi và ba tôi có họ giống nhau?;
  • Nguyễn Đức Cường nói:
    Mẹ chết để lại cần nhà nhug k có đi chúc chị có hai a e nhug ng a k có khả năng lao động vật pai làm sao để tôi đứng tên thừa hưởng tai sản đó xin cảm on;
  • nguyen hoang thuc nói:
    ong noi toi co cho ba toi va bac toi mot mieng dat sau khi bac toi cuoi vk truoc nen ve manh dat canh tac va lam giay so do. sau do ba toi cuoi vk sau cung ve do canh tac tren manh dat con lai.sau khi ong noi toi mat bac toi ko tach so lai cho ba toi. sau khi bac toi mat thi bac toi da sang ten lai cho cac con cua ong. hoi luat su ba toi co lay lai manh dat do duoc ko;
  • nguyen hoang thuc nói:
    ong noi toi co cho ba toi va bac toi mot mieng dat sau khi bac toi cuoi vk truoc nen ve manh dat canh tac va lam giay so do. sau do ba toi cuoi vk sau cung ve do canh tac tren manh dat con lai.sau khi ong noi toi mat bac toi ko tach so lai cho ba toi. sau khi bac toi mat thi bac toi da sang ten lai cho cac con cua ong. hoi luat su ba toi co lay lai manh dat do duoc ko;