Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

thủ tục giải quyết tranh chấp về đất đai

Tranh chấp đất đai là các mâu thuẫn, bất đồng ý kiến của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại.
Về vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai, được quy định tại điều 135, 136 Luật Đất đai 2003 như sau:
 
Điều 135. Hoà giải tranh chấp đất đai
 
 
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở.
 
 
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.
 
 
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai.
 
 
Thời hạn hoà giải là ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhận được đơn.
 
 
Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai.
 
  Điều 136. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
 
 
Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:
 
 
1. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;
 
 
2. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:
 
 
a) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;
 
 
b) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.
 
Đối với giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính.
 
 
Tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới giữa các đơn vị hành chính do Ủy ban nhân dân của các đơn vị đó cùng phối hợp giải quyết.
 
Trường hợp không đạt được sự nhất trí hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính thì thẩm quyền giải quyết được quy định như sau:
 
 
a) Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì do Quốc hội quyết định;
 
 
b) Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi là địa giới hành chính của cấp huyện) hoặc xã, phường, thị trấn (cấp xã) do Chính phủ quyết định. Bộ Tài nguyên và môi trường, Sở Tài nguyên và môi trường, Phòng Tài nguyên và môi trường có trách nhiệm cung cấp các tài liệu cần thiết và phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết các tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính.
 
 
Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp về đất đai
 
Người khởi kiện nộp đơn yêu cầu giải quyết tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
 
Nếu qua thủ tục hòa giải mà một trong các bên không đồng ý với nội dung hòa giải thì có quyền nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hoặc nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp mà không thông qua trình tự thủ tục hòa giải.
 
Sau khi nhận đơn khởi kiện hợp lệ, tài liệu chứng cứ kèm theo mà vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án thì Tòa án thông báo cho người khởi kiện để nộp tạm ứng án phí (nếu không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tạm ứng án phí) Sau khi nhận được biên lai nộp tạm ứng án phí thì Tòa án tuến hành thụ lý vụ án và giải quyết. 
 

Phản hồi từ khách hàng

ngô cường (ngocuongtp@gmail.com)
Gia đình tôi hiện đang sử dụng lô đất thổ cư nhiều đời nay do các cụ để lại, diện tích 640m2, có bìa đỏ. Ngày 29/4/2018 , do thỏa thuận giữa gia đình nhà tôi và gia đình liền kề thống nhất đổi cho gia đình tôi thêm diện tích cho lối đi là 11,5m2; gia đình tôi đồng ý đổi lùi về phần đất của tôi với diện tích 16,5m2 ( có biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình và sự chứng kiến của trưởng xóm). Sau khi thống nhất, gia đình nhà Bên tiến hành xây dựng nhà cao tầng trong đó có xây trên phần đất đổi theo thỏa thuận nhưng lại lấn chiếm sang phần đất của nhà tôi tôi ở 2 vị trí cột móng. Gia đình đã nhắc nhở nhiều lần ngay từ khi đào móng, đổ móng và đã đề nghị chính quyền Xóm can thiệp nhưng không nghe. Gia đình tôi đã tiến hành làm đơn đề nghị UBND xã can thiệp . Ngày 14/6/2018 UBND xã đã tiến hành mời 2 gia đình đến trụ sở để giải quyết nhưng họ không hợp tác mà tự ý bỏ về. Xin cho hỏi: 1. Gia đình nhà hàng xóm tiến hành xây dựng đã vi phạm cam kết và lấn chiếm sang phần đất nhà tôi , UBND xã hòa giải không thành thì UBND xã có được ra quyết định đình chỉ thi công công trình trên đất tranh chấp không? 2. Văn bản thỏa thuận đó đã đủ cơ sở pháp lý để gia đình nhà bên xây dựng nhà cao tầng không? Tôi có quyền yêu cầu trả lại nguyên trạng trạng mặt bằng đất như ban đầu theo bìa đỏ không? 3. Bước tiếp theo gia đình tôi phải làm gì? ( Cám ơn Luật Sư);