Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Điều kiện kết hôn

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định việc kết hôn giữa nam và nữ được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng

Nhà nước có chính sách, biện pháp tạo điều kiện để các công dân nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và gia đình thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

Quan hệ hôn nhân và gia đình thực hiện theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình được Nhà nước tôn trọng và được pháp luật bảo vệ, các hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình được pháp luật xử lý nghiêm minh.

Những phong tục, tập quán trong quan hệ hôn nhân và gia đình, thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc của pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam được Nhà nước tôn trọng và phát huy.

Theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 (LHN&GĐ) về điều kiện kết hôn thì:

Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

1. Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;

2. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;

3. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật này”.

- Cách tính tuổi kết hôn

Khoản 1 Điều 9 LHN&GĐ quy định tuổi kết hôn là: Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên. Việc xác định tuổi kết hôn có thể tính kể từ khi nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám đã được coi là đủ tuổi kết hôn và không vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn.

Ví dụ: Nguyễn Thị A sinh ngày 15/9/1994. Sau ngày 15/9/2011, ngày A tròn 17 tuổi và bước sang tuổi 18, A được coi là đủ điều kiện về tuổi kết hôn.

Nguyễn Văn H sinh ngày 20/5/1992. Sau ngày 20/5/2011, ngày H tròn 19 tuổi, bước sang tuổi 20, H được coi là đủ điều kiện về tuổi kết hôn.

Nam và nữ kết hôn tuy có đủ các điều kiện quy định về tuổi kết hôn và không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn, nhưng họ không tự nguyện, không được quyết định việc kết hôn của mình mà thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì cũng bị coi là vi phạm điều kiện kết hôn:

- Ép buộc kết hôn: Một bên ép buộc bên kia (có thể là đe doạ dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần hoặc dùng vật chất...), buộc bên bị ép buộc đồng ý kết hôn.

Ví dụ: H và T đã từng sống thử với nhau khi còn là sinh viên. Sau này, khi đã tốt nghiệp, nhận thấy T có nhiều điểm không phù hợp với mình, H đã nói lời chia tay. T không chấp nhận. T dọa sẽ nói cho mọi người biết H đã từng phá thai trong thời gian sống chung với T nếu H không đồng ý lấy T. Vì thế, H buộc phải kết hôn với T.

- Lừa dối kết hôn: Một bên lừa dối khiến bên bị lừa dối đã đồng ý kết hôn. Có thể lừa dối về bệnh tật hiểm nghèo như không có khả năng sinh lý nhưng cố tình giấu; biết mình bị nhiễm HIV nhưng cố tình giấu..., có thể lừa dối bằng cách hứa hẹn nhưng sau đó không thực hiện như: hứa là nếu kết hôn sẽ xin việc làm phù hợp hoặc nếu kết hôn sẽ bảo lãnh ra nước ngoài...

Ví dụ: L con trai một gia đinh giàu có nhưng bị bệnh không có khả năng sinh lý. Khi gặp N - một cô gái trẻ trung xinh đẹp, L rất thích. Để cưới được N, L đã giấu kín bệnh của mình. Vì không biết gì về bệnh tật của L nên N đã đồng ý kết hôn với L.

- Cưỡng ép kết hôn là hành vi buộc người bị cưỡng ép phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ. Người bị cưỡng ép kết hôn có thể là một bên hoặc cả hai bên nam và nữ.

Người cưỡng ép kết hôn có thể là cha mẹ, anh chị của một hoặc cả hai bên nam, nữ. Người cưỡng ép kết hôn cũng có thể là người mà người bị cưỡng ép phụ thuộc về kinh tế, về vật chất, tinh thần.

Ví dụ: Bố mẹ H vay của T rất nhiều tiền để đánh đề nhưng càng đánh càng thua. Khi số tiền vay nợ đã quá lớn, bố mẹ H không có đủ khả năng để trả nợ. Biết T thích H và nếu H đồng ý lấy T thì có thể T sẽ xóa nợ cho bố mẹ H. Vì thế, bố mẹ H ra sức cưỡng ép, bắt H kết hôn với T.

Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình và tạo điều kiện để các công dân nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ pháp luật về hôn nhân và gia đình quy định cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cấm kết hôn giả tạo, lừa dối.

 

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Nguyễn Đức Cường nói:
    Mẹ chết để lại cần nhà nhug k có đi chúc chị có hai a e nhug ng a k có khả năng lao động vật pai làm sao để tôi đứng tên thừa hưởng tai sản đó xin cảm on;
  • nguyen hoang thuc nói:
    ong noi toi co cho ba toi va bac toi mot mieng dat sau khi bac toi cuoi vk truoc nen ve manh dat canh tac va lam giay so do. sau do ba toi cuoi vk sau cung ve do canh tac tren manh dat con lai.sau khi ong noi toi mat bac toi ko tach so lai cho ba toi. sau khi bac toi mat thi bac toi da sang ten lai cho cac con cua ong. hoi luat su ba toi co lay lai manh dat do duoc ko;
  • nguyen hoang thuc nói:
    ong noi toi co cho ba toi va bac toi mot mieng dat sau khi bac toi cuoi vk truoc nen ve manh dat canh tac va lam giay so do. sau do ba toi cuoi vk sau cung ve do canh tac tren manh dat con lai.sau khi ong noi toi mat bac toi ko tach so lai cho ba toi. sau khi bac toi mat thi bac toi da sang ten lai cho cac con cua ong. hoi luat su ba toi co lay lai manh dat do duoc ko;
  • Thanh Dung nói:
    Mẹ tôi mất bà ngoại chỉ có mẹ tôi là con nên bà có làm di chúc nhường quyền sử dụng đất cho ba tôi có thời hạn 5 năm nhưng đến nay bà tôi đã mất và di chúc củng đã hết hạn sổ đổ vẫn còn tên bà tôi. Và ba tôi k cho chúng tôi về ở mà dẫn người ngoài về ở chúng tôi không thương lượng được với ba nên chúng tôi muốn phân chia lại tài sản của bà tôi thì phải làm sao? Cám ơn Luật sư.;
  • Nguyễn Sang nói:
    tôi muốn hỏi về luật ly hôn.trươc khi tôi cưới vợ. tôi đã có một cái nhà 3 tầng do bô mẹ tôi bán đất xây nhà cho tôi đó là tài sản riêng của tôi,vây tôi ly hôn với vợ tôi có gọi là tai sản chung hay không? tôi muốn làm thủ tục ly hôn thì làm như thé nào và lộp ở đâu?;
  • Sang nói:
    Sử dụng email người khác là không tốt đâu.;
  • Trịnh văn Hùng nói:
    Cho tôi hỏi , 2 vk Ck giờ ly hôn muốn để lại tài sản cho con thì lam sao , có cách nào khác như trên ko.;
  • trần hải nam nói:
    Tôi muốn hỏi thủ tục ly hôn với người nước ngoài;
  • Nguyễn thị huyền my nói:
    Chung tôi có 2con chung và tôi có 1con riêng muốn ly hôn khi cả 2bên đều chấp thuận thủ tục ntn;
  • Luật sư tư vấn nói:
    Thủ tục ly hôn gồm có các giấy tờ sau: - Đơn xin ly hôn - Bản chính giấy đăng ký kết hôn; - Bản sao giấy khai sinh của các con (nếu có con); - Bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc sổ đăng ký hộ khẩu thường trú (xuất trình cùng bản chính); - Các chứng cứ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng)... Các giấy tờ, tài liệu nói nói trên phải là bản sao có chứng thực hoặc Thẩm phán phải tự mình đối chiếu bản sao với bản chính. Nếu là giấy tờ, tài liệu từ nước ngoài gửi về thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự (Điều 418 BLTTDS).;