Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Kết hôn có yếu tố nước ngoài

 Điều 103 LHN&GĐ quy định trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn.

 

Pháp luật mỗi nước đều có quy định rõ ràng về điều kiện kết hôn, tuy nhiên những quy định này rất khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi nước. Chính vì vậy, trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài tất yếu sẽ dẫn đến xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn, do đó, việc xác định pháp luật nước nào được áp dụng là điều rất quan trọng, để bảo đảm quyền kết hôn của công dân.

 

Điều 103 LHN&GĐ quy định trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn. Theo quy định này, công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, dù việc kết hôn được tiến hành ở Việt Nam hay ở nước ngoài cũng luôn phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn được quy định tại Điều 9 và 10 LHN&GĐ. Nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài, ngoài việc phải tuân theo pháp luật của nước mà họ là công dân, còn phải tuân theo các quy định về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn quy định trong LHN&GĐ của Việt Nam.  

 

Về việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mà họ là công dân hoặc thường trú (đối với người không quốc tịch) về điều kiện kết hôn; ngoài ra, phải tuân theo các quy định của LHN&GĐ về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn.

 

Theo quy định, hồ sơ đăng ký kết hôn của mỗi bên phải có các giấy tờ sau đây:

 

- Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định;

 

- Giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân của mỗi bên, do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người xin kết hôn là công dân cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại đương sự là người không có vợ hoặc không có chồng.

 

Trong trường hợp pháp luật của nước mà người xin kết hôn là công dân không quy định cấp giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân thì có thể thay giấy xác nhận tình trạng hôn nhân bằng giấy xác nhận lời tuyên thệ của đương sự là hiện tại họ không có vợ hoặc không có chồng, phù hợp với pháp luật của nước đó;

 

- Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc không mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;

 

- Bản sao có công chứng hoặc chứng thực giấy chứng minh nhân dân (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), hộ chiếu hoặc giấy tờ thay thế như giấy thông hành hoặc thẻ cư trú (đối với người nước ngoài và công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài);

 

- Bản sao có công chứng hoặc chứng thực sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể hoặc giấy xác nhận đăng ký tạm trú có thời hạn (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú hoặc giấy xác nhận tạm trú (đối với người nước ngoài ở Việt Nam).

 

Ngoài các giấy tờ trên, đối với công dân Việt Nam đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang hoặc đang làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật Nhà nước thì phải nộp giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức quản lý ngành cấp trung ương hoặc cấp tỉnh, xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật Nhà nước hoặc không trái với quy định của ngành đó.

 

Hồ sơ đăng ký kết hôn được lập thành 02 bộ và nộp tại Sở Tư pháp, nếu đăng ký kết hôn tại Việt Nam; lập thành 01 bộ và nộp tại Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam, nếu đăng ký kết hôn tại Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam. Ngoài ra, trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài cũng được quy định cụ thể nhằm tạo thuận lợi cho công dân khi thực hiện quyền của mình.

 

Việc thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài bảo đảm quan hệ giao lưu quốc tế, quyền tự quyết định việc hôn nhân của công dân trên nguyên tắc tự nguyện. Tuy nhiên, bên cạnh đó đã xảy ra nhiều trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài không tuân thủ quy định của pháp luật, đặc biệt là mục đích của quan hệ hôn nhân không nhằm xác lập quan hệ vợ chồng mà việc kết hôn nhằm đạt mục đích khác, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ. Để ngăn chặn, hạn chế tới mức thấp nhất hiện tượng này, khoản 2 Điều 103 LHN&GĐ quy định: “Nghiêm cấm lợi dụng việc kết hôn có yếu tố nước ngoài để buôn bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác”.

 

 

 

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Nguyễn thị ngọc hân nói:
    Ba tôi mất có để lại đất và nhà ở gắn liền với đất do ba mẹ tôi cùng đứng tên. Giờ chị em tôi từ bỏ quyền thừa kế để mẹ tôi được hưởng tài sản đó. Trong quá trình làm thủ tục thì giấy chứng tử của ông nội tôi và ba tôi họ lại không giống nhau ( ông nội họ phan, ba họ nguyễn). Vậy thì phải làm thế nào để giải quyết vấn đề họ không giống nhau?. Theo như tìm hiểu của tôi thì cả dòng họ của gia đình tôi trên các giấy tờ có liên quan đều mang họ nguyễn nhưng không biết vì sao khi Anh con của bác tôi đi đăng kí khai tử cho ông nội tôi lại thành họ phan. Tôi trình vấn đề này cho bộ phận tư Pháp của UBND xã để giải quyết, họ yêu cầu tôi cung cấp các giấy tờ mang họ nguyễn của ông nội tôi nhưng mà các giấy tờ của ông nội tôi đều mất hết chỉ còn lại trên giấy khai sinh của ba tôi là có tên của ông tôi mang họ nguyễn. Trong trường hợp này thì tôi phải làm thế nào để giấy chứng tử của ông nội tôi và ba tôi có họ giống nhau?;
  • Nguyễn Đức Cường nói:
    Mẹ chết để lại cần nhà nhug k có đi chúc chị có hai a e nhug ng a k có khả năng lao động vật pai làm sao để tôi đứng tên thừa hưởng tai sản đó xin cảm on;
  • nguyen hoang thuc nói:
    ong noi toi co cho ba toi va bac toi mot mieng dat sau khi bac toi cuoi vk truoc nen ve manh dat canh tac va lam giay so do. sau do ba toi cuoi vk sau cung ve do canh tac tren manh dat con lai.sau khi ong noi toi mat bac toi ko tach so lai cho ba toi. sau khi bac toi mat thi bac toi da sang ten lai cho cac con cua ong. hoi luat su ba toi co lay lai manh dat do duoc ko;
  • nguyen hoang thuc nói:
    ong noi toi co cho ba toi va bac toi mot mieng dat sau khi bac toi cuoi vk truoc nen ve manh dat canh tac va lam giay so do. sau do ba toi cuoi vk sau cung ve do canh tac tren manh dat con lai.sau khi ong noi toi mat bac toi ko tach so lai cho ba toi. sau khi bac toi mat thi bac toi da sang ten lai cho cac con cua ong. hoi luat su ba toi co lay lai manh dat do duoc ko;
  • Thanh Dung nói:
    Mẹ tôi mất bà ngoại chỉ có mẹ tôi là con nên bà có làm di chúc nhường quyền sử dụng đất cho ba tôi có thời hạn 5 năm nhưng đến nay bà tôi đã mất và di chúc củng đã hết hạn sổ đổ vẫn còn tên bà tôi. Và ba tôi k cho chúng tôi về ở mà dẫn người ngoài về ở chúng tôi không thương lượng được với ba nên chúng tôi muốn phân chia lại tài sản của bà tôi thì phải làm sao? Cám ơn Luật sư.;
  • Nguyễn Sang nói:
    tôi muốn hỏi về luật ly hôn.trươc khi tôi cưới vợ. tôi đã có một cái nhà 3 tầng do bô mẹ tôi bán đất xây nhà cho tôi đó là tài sản riêng của tôi,vây tôi ly hôn với vợ tôi có gọi là tai sản chung hay không? tôi muốn làm thủ tục ly hôn thì làm như thé nào và lộp ở đâu?;
  • Sang nói:
    Sử dụng email người khác là không tốt đâu.;
  • Trịnh văn Hùng nói:
    Cho tôi hỏi , 2 vk Ck giờ ly hôn muốn để lại tài sản cho con thì lam sao , có cách nào khác như trên ko.;
  • trần hải nam nói:
    Tôi muốn hỏi thủ tục ly hôn với người nước ngoài;
  • Nguyễn thị huyền my nói:
    Chung tôi có 2con chung và tôi có 1con riêng muốn ly hôn khi cả 2bên đều chấp thuận thủ tục ntn;