Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Chồng cũ của tôi đã chuyển địa phương mới, tôi phải làm sao để xác định tình trạng hôn nhân?

Trả lời

1. Thủ tục đăng ký kết hôn được quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký quản lý hộ tịch. Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân.

Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó.

Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó.

Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân.

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại chương V của Nghị định 158/2005/NĐ-CP. Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận.

Như vậy, quy định trên chỉ yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nếu bạn đăng ký kết hôn tại xã, phường khác không phải nơi cư trú của mình. Trường hợp này bạn xin Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định sau: bạn phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định). Trường hợp bạn đã có vợ nhưng đã ly hôn thì phải xuất trình trích lục Bản án/Quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc ly hôn. Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc viên chức Lãnh sự ký và cấp cho bạn Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (theo mẫu quy định). Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn xác minh là 5 ngày.

Thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân quy định tại Điều 66 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP  là: Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người có yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân; Công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài có yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân trong thời gian ở trong nước, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó cư trú trước khi xuất cảnh, thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; Công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài có yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân trong thời gian ở nước ngoài, thì Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam ở nước mà người đó cư trú, thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Trường hợp của bạn đã chuyển hộ khẩu thì Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02/6/2008 hướng dẫn thực hiện Nghị định 15/2005/NĐ-CP quy định: Đối với những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), mà Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi đó, thì yêu cầu đương sự viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan.
 
Đối chiếu với quy định nêu trên thì bạn không bắt buộc phải xin xác nhận tình trạng hôn nhân tại nơi thường trú trước đây. Tuy nhiên Khoản 2 Điều 18 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định về thủ tục đăng ký kết hôn thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký kết hôn có thể xác minh trước khi tiến hành đăng ký kết hôn. Do đó, UBND cấp xã nơi đăng ký kết hôn có thể tự mình hoặc yêu cầu bạn xin xác nhận tại UBND cấp xã trước đây về tình trạng hôn nhân của bạn. Bạn có thể viết đơn với nội dung là từ khi có quyết định ly hôn (đã có hiệu lực pháp luật) của Tòa án thì bạn chưa đăng ký kết hôn với ai và xin xác nhận của UBND cấp xã nơi thường trú cũ.

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Luật sư tư vấn nói:

    Việc hai chị của bạn kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất "di sản của bố mẹ bạn để lại" mà không được sự đồng ý của những những người thừa kế khác là chưa phù hợp với các quy định của pháp luật. Khi sảy ra tranh chấp về quyền thừa kế bạn hoàn thiện hồ sơ khởi kiện chia thừa kế đối với di sản mà bố mẹ bạn để lại, yêu cầu hủy GCN đã cấp cho hai chị của bạn. Bạn tham khảo thủ tục khởi kiện tại đây. 

    ;
  • Nguyễn duy Lượng nói:
    Bố tôi mất năm 1985 mẹ tôi mất năm 1992 không để lại đi chúc . Gia đình có 5 chị em Gái , 2 chị chia mảnh đất của bố mẹ tôi làm 2 rồi làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất (đã cấp) mà ko có biên bản họp gia đình , không được sự nhất trí ủy quyền của 3 người còn lại . Hỏi có đúng với luật định không ? Khi sảy ra tranh chấp thì thủ tục phải làm như thế nào?;
  • Nguyễn duy Lượng nói:
    Bố tôi mất năm 1985 mẹ tôi mất năm 1992 không để lại đi chúc . Gia đình có 5 chị em Gái , 2 chị chia mảnh đất của bố mẹ tôi làm 2 rồi làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất (đã cấp) mà ko có biên bản họp gia đình , không được sự nhất trí ủy quyền của 3 người còn lại . Hỏi có đúng với luật định không ? Khi sảy ra tranh chấp thì thủ tục phải làm như thế nào?;
  • đinh kim chau nói:
    ba tôi mat để lai di chuc cho toi hương một miêng đất (dược sự đồng ý của mẹ tôi) khi lam chủ quyền có cần sự đồng ý của anh chị em ruột không;
  • Ngô văn tài nói:
    Xin luật sư cho biết khi bố tôi chết để lại cho gia đình đất ruộng ,mẹ tôi là người thừa kế s ma còn cần cac con đông ý mới được thừa kế .nếu có người còn trong gia đình khong đồng ý z phải làm s ạk;
  • Quách van quyền nói:
    Tôi muốn ly hôn vi vợ ko nói thật ve nhung moi tinh cảm va ko hợp nhau;
  • Quách van quyền nói:
    Tôi muốn ly hôn vi vợ ko nói thật ve nhung moi tinh cảm va ko hợp nhau;
  • Quách van quyền nói:
    Tôi muốn ly hôn vi vợ ko nói thật ve nhung moi tinh cảm va ko hợp nhau;
  • Bui van quy nói:
    Tôi muốn ly hôn vi vợ ko nói thật ve nhung moi tinh cảm va ko hợp nhau;
  • Bui van quy nói:
    Tôi muốn ly hôn vi vợ ko nói thật ve nhung moi tinh cảm va ko hợp nhau;