Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Tình huống thực tế liên quan đến hợp đồng cho tặng tài sản

Một vài tình huống liên quan đến hợp đồng tặng cho tài sản.

  1. Tình huống thứ nhất:

 Anh A và chị B có 2 người con là M (sinh năm 1991) và N (sinh năm 1996). Năm 2009, UBND huyện G cấp cho Hộ gia đình anh A một mảnh đất có diện tích 50 m 2 . Nay, do mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, anh A, chị B không muốn ly hôn nhưng muốn tách bạch về tài sản. Họ thỏa thuận anh A sẽ được sở hữu căn nhà mà gia đình đang sinh sống, chị B sẽ được quyền sử dụng thửa đất. Để chị B được toàn quyền sử dụng thửa đất nói trên, anh A, chị B đến Văn phòng công chứng H1 yêu cầu công chứng Hợp đồng tặng cho tài sản với nội dung anh A, cháu M, cháu N tặng cho phần quyền sử dụng đất của mình cho chị B; đại diện cho cháu N để lập và ký hợp đồng là anh A.

Việc có chấp nhận đưa nội dung thỏa thuận như trên vào văn bản công chứng hay không hiện có hai quan điểm:

+ Không chấp nhận: Vì theo quy định tại Điều 144 BLDS: “Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác »,anh A là đại diện đương nhiên của cháu N không thể đại diện cho cháu đem tài sản tặng cho người khác. Hành vi đem tài sản của con chưa thành niên để tặng cho người khác không thể được coi là “vì lợi ích của người được đại diện”.

+ Chấp nhận: Những người theo quan điểm này cho rằng, khái niệm lợi ích ở đây còn bao gồm cả vấn đề lợi ích về tinh thần; điều luật trên không giới hạn ở việc giao dịch thông qua người đại diện phải hướng tới lợi ích vật chất của người được đại diện. Mặt khác, “giám hộ” - một chế định tương tự đã có quy định rất rõ như sau: “Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác” (khoản 2 Điều 69 BLDS). Nếu nhà làm luật thấy cần thiết phải quy định cấm như vậy đối với trường hợp đại diện đương nhiên thì sẽ đưa ra quy định rõ ràng như vậy. Tôi ủng hộ quan điểm thứ nhất. Có thể thấy, việc chứng minh giao dịch tặng cho được thực hiện hướng tới lợi ích tinh thần của cháu N là rất khó. Nếu công chứng viên chấp nhận công chứng văn bản với nội dung như vậy thì khả năng rủi ro là rất lớn. Toàn bộ giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ lưu trữ chỉ thể hiện việc anh A đã đại diện cháu N đem tài sản của cháu tặng cho người khác; không có căn cứ thể hiện đổi lại việc tặng cho này, cháu N nhận được lợi ích gì. Do vậy, nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ rất bất lợi.

  1. Tình huống thứ hai:

Anh A và chị B có 2 người con là M (sinh năm 1991) và N (sinh năm 1996). Đầu năm 2010, anh A chết do mắc bệnh hiểm nghèo. Những người thừa kế của anh A gồm chị B, cháu M, cháu N và bà Q (mẹ đẻ anh A) đã đến Văn phòng công chứng X9 để làm thủ tục phân chia di sản thừa kế; mục đích mà họ mong muốn là giao căn nhà cho bà Q, bà Q sẽ thanh toán cho 03 mẹ con chị B một khoản tiền để mua một căn hộ chung cư. Họ yêu cầu công chứng viên lập và chứng nhận văn bản thỏa thuận phân chia di sản với nội dung chị B, cháu M, cháu N tặng cho phần thừa kế của mình cho bà Q; sau đó, các bên sẽ tự thực hiện việc thanh toán . Để lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản với nội dung như vậy, người đại diện cho cháu N để lập và ký hợp đồng sẽ là chị B (đại diện đương nhiên). Nếu lập Văn bản với nội dung như vậy sẽ vẫn phát sinh câu chuyện người đại diện đem tài sản của người được đại diện để tặng cho người khác.

Thực tế, cũng đã có những công chứng viên chấp nhận yêu cầu công chứng có nội dung như trên và cũng phải ghi nhận rủi ro đối với những trường hợp này không nhiều bởi hầu hết các trường hợp nội dung thỏa thuận như vậy đã có sự đồng thuận không chỉ trong phạm vi gia đình mà là cả họ hàng, dòng tộc. Thế nhưng, không nhiều không có nghĩa là không có rủi ro, hơn nữa, việc chị B đại diện cho cháu N ký Văn bản với nội dung tặng cho phần tài sản mà cháu được hưởng thừa kế là vi phạm quy định tại Điều 144 BLDS.

Qua xem xét các quy định về thừa kế, chúng ta thấy, tại khoản 2 Điều 685 cho phép “những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật…”. Áp dụng điều luật này vào tình huống nói trên, những người thừa kế của anh A có thể thống nhất định giá căn nhà, chọn bà Q là người nhận căn nhà; đồng thời, bà Q sẽ thanh toán cho những người thừa kế còn lại một khoản tiền hợp lý trên cơ sở Biên bản định giá đã thống nhất. Mặt khác, với yêu cầu của người yêu cầu công chứng, công chứng viên sẽ lập “Văn bản thỏa thuận phân chia di sản”, không lập “hợp đồng tặng cho” đối với trường hợp trên.

  1. Tình huống thứ ba:

Anh A và chị B có một căn nhà và một sổ tiết kiệm. Nay, anh A, chị B muốn ra nước ngoài để làm ăn; họ xác định sẽ chỉ đầu tư vào công việc kinh doanh trong phạm vi số vốn đã tích lũy được. Anh chị quyết định sẽ giao căn nhà cho con mình là cháu P (12 tuổi). Anh A, chị B và cháu N đã đến Phòng công chứng số 10 tỉnh K để yêu cầu công chứng hợp đồng tặng cho nhà. Yêu cầu công chứng trong trường hợp này đã không được chấp nhận. Công chứng viên thụ lý hồ sơ đưa ra lý do: Cháu P là người chưa thành niên, theo quy định tại Điều 20 BLDS, “Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác» ; như vậy, mọi giao dịch của cháu phải thông qua đại diện đương nhiên là cha hoặc mẹ (khoản 1 Điều 141BLDS). Trong trường hợp này, anh A, chị B sẽ ký hợp đồng tặng cho với tư cách là Bên tặng cho; Bên được tặng cho là cháu P, nhưng người đại diện để ký hợp đồng không ai khác sẽ phải là anh A hoặc chị B. Và như vậy, việc giao kết hợp đồng này đã vi phạm điều cấm của pháp luật, cụ thể là khoản 5 Điều 144 BLDS: “Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Có thể thấy, trong tình huống này, công viên đã từ chối công chứng đúng căn cứ pháp luật. Nhưng nhìn nhận từ góc độ nhu cầu của người tham gia giao dịch thì chưa ổn, bởi lẽ đây là nhu cầu hoàn toàn chính đáng. Không thể nói việc tặng cho tài sản của anh A, chị B là nhằm trốn tránh việc thực hiện một nghĩa vụ nào đó, bởi giao dịch tặng cho được xác lập trước khi anh chị bắt tay vào hoạt động kinh doanh. Hơn nữa, nội dung giao dịch nói trên hoàn toàn không tiềm ẩn rủi ro. Cháu P là người chưa thành niên nhưng lại là bên được tặng cho - bên mang quyền trong hợp đồng không có đền bù. Theo quan điểm cá nhân tôi, nên chăng trong trường hợp này, công chứng viên áp dụng các quy định về giám hộ để giải quyết. Cụ thể, Điều 61 BLDS quy định về “Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên” cho phép cha, mẹ được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cử người giám hộ nếu “không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên”. Trong tình huống yêu cầu công chứng nói trên, anh A, chị B ra nước ngoài hoàn toàn có thể xác định thuộc trường hợp không có điều kiện chăm sóc, giáo dục cháu P. Do vậy, anh A, chị B hoàn toàn có thể đến Ủy ban nhân dân phường nơi cư trú của gia đình để yêu cầu cử người giám hộ cho cháu P. Sau khi có Quyết định công nhận việc giám hộ, các bên sẽ tiến hành giao kết hợp đồng tặng cho: Anh A, chị B là Bên tặng cho; cháu P là Bên được tặng cho, do người giám hộ đại diện ký hợp đồng. Với hướng giải quyết như vậy, một mặt, đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật, mặt khác, đáp ứng được nguyện vọng hoàn toàn chính đáng của người dân.

Nhìn nhận trên phương diện rộng, thông qua tình huống nói trên và những tình huống tương tự phát sinh trên thực tế, có thể thấy quy định tại khoản 5 Điều 144 BLDS còn hạn chế; nên chăng, nhà làm luật cần có hướng sửa đổi quy định này cho phù hợp, đảm bảo được quyền lợi chính đáng của các bên trong quan hệ dân sự.

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Admin nói:

    Với nội dung câu hỏi của chị, chúng tôi tư vấn như sau:

    Thủ tục giải quyết bao gồm:

    Bước 1. Nhận đơn và thụ lý đơn ly hôn

    "Điều 190. Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án

    1. Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:

    a) Nộp trực tiếp tại Tòa án;

    b) Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;

    c) Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)".

    "Điều 191. Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện

    3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

    a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

    b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;

    c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

    d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án".

    Như vậy, bước đầu chị cần phải gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Toàn án có thẩm quyền giải quyết bằng các phương thức được quy định tại khoản 1 điều 190 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Trong vòng thời hạn là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ thì Tòa án sẽ thông báo về việc tiến hành thụ lý vụ án nếu hồ sơ hợp lệ và thông báo cho chị đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí.

    Điều 195. Thụ lý vụ án

    1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

    2. Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

    3. Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

    Trong vòng thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, chị phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu phí tạm ứng án phí thì Thẩm phán sẽ tiến hành thụ lý vụ án.

    Bước 2. Chuẩn bị xét xử

    Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

    Trong vòng thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, chị phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu phí tạm ứng án phí thì Thẩm phán sẽ tiến hành thụ lý vụ án.

    Bước 2. Chuẩn bị xét xử

    Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vuh án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc.

    Điều 205. Nguyên tắc tiến hành hòa giải

    2. Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

    a) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình;

    b) Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

    Theo quy định, hết thời hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

    Trường hợp chị và chồng thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì Thẩm phán sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

    Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự là 4 tháng kể từ ngày thụ lý:

    Điều 203. Thời hạn chuẩn bị xét xử

    1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

    a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

    ;
  • Nguyễn thị thanh nói:
    các chị cho em hỏi em muốn ly hôn với chồng em lý do chúng em cưới nhau được 10 năm rồi nhưng do em không thể sinh con được, mà chồng em thì chơi bời gái hú cờ bạc , em đếu chấp nhận bỏ qua trong xuốt thời gian qua, nhưng đến thời điểm hiện tại em không muốn chấp nhận như vậy nữa, em muốn làm đơn li hôn , nhưng chồng em không đồng ý , em đã viết đơn xin ly hôn đơn thân , các chị cho em hỏi em nộp đơn như vậy tòa giải quyết có nhanh ko ạ?;
  • Admin nói:

    Cảm ơn chị đã gửi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật TNHH ANP, trường hợp của chị chúng tôi tư vấn như sau:

    Thứ nhất, về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

    "Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

    Theo quy định trên thì chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, bởi theo thông tin chị cung cấp thì chồng chị đã có hành vi xúc phạm nhân phẩm, đánh đập và không tôn trọng chị.

    Thứ hai, giấy tờ cần thiết cho việc ly hôn

    Hồ sơ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn bao gồm:

    - Đơn xin ly hôn (theo mẫu của Tòa án);

    - Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

    - Sổ hộ khẩu, Chứng minh thư nhân dân của vợ chồng (bản sao, chứng thực);

    - Giấy khai sinh của con (bản sao, chứng thực);

    - Các chứng từ chứng minh tài sản chung như: Giấy tờ xe, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ tiết kiệm,… (bản sao, chứng thực).

    Hồ sơ nộp tại: Tòa án nhân dân huyện/quận nơi chồng chị cư trú. Có thể nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện.

    Thứ ba, vấn đề không có các giấy tờ cần thiết cho việc ly hôn

    - Về Sổ hộ khẩu: Chị liên hệ với công an cấp xã/ phường nơi chị thường trú xác nhận rằng chị là nhân khẩu thường trú tại địa phương. Việc xác nhận này bạn có thể làm một đơn riêng, cũng có thể nhờ công an xác nhận ngay vào đơn xin ly hôn.

    - Về Giấy đăng ký kết hôn: Chị có thể đến UBND xã/phường nơi anh chị đã đăng ký kết hôn để yêu cầu trích lục lại hồ sơ về việc đã đăng ký kết hôn.

    - Về Giấy khai sinh: Chị có thể liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi chị đã đăng ký khai sinh để xin cấp bản sao.

     

    Từ những phân tích trên, chị có thể căn cứ vào đó để có thể tiến hành thủ tục ly hôn nhanh gọn.

    ;
  • Bùi bách Diệp nói:
    Mk kết hôn được 1 năm có 1 con chug trong thời gian chug sống chồng mình có hành vi xâm phạm nhân phẩm và đánh đâp mình không tôn trọng và bây giơ mình muốn đơn phương ly hôn nhưg ko có hộ khẩu gia đình nhà chồng mình và khôg có cmt của chồng minh thy làm thế nào ạ rât mong được phản hồi;
  • Bùi bách Diệp nói:
    Mk kết hôn được 1 năm có 1 con chug trong thời gian chug sống chồng mình có hành vi xâm phạm nhân phẩm và đánh đâp mình không tôn trọng vo và bây giơ mình muốn đơn phương ly hôn nhưg ko có hộ khẩu gia đình nhà chồng mình và khôg có cmt của chồng minh thy làm thế nào ạ rât mong được phản hồi;
  • Bùi bách Diệp nói:
    Mk kết hôn được 1 năm có 1 con chug trong thời gian chug sống chồng mình có hành vi xâm phạm nhân phẩm và đánh đâp mình không tôn trọng vo và bây giơ mình muốn đơn phương ly hôn nhưg ko có hộ khẩu gia đình nhà chồng mình và khôg có cmt của chồng minh thy làm thế nào ạ rât mong được phản hồi;
  • Admin nói:

    Thứ nhất, điều kiện đơn phương li hôn

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

    >>>Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

    Theo thông tin bạn cung cấp, công ty đưa ra ý kiến tư vấn cho bạn như sau: Để có thể đơn phương ly hôn thì bạn cần chứng minh được chồng bạn có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

    Trong trường hợp vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn, thì hồ sơ cần chuẩn bị

    Hồ sơ ly hôn bao gồm các giấy tờ sau :

    + Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

    + Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

    + Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

    + Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

    + Đơn yêu cầu ly hôn (Theo mẫu của Tòa án)

    Thứ hai, về thẩm quyền tiếp nhận đơn xin ly hôn

    Về vấn đề thẩm quyền trong ly hôn thì theo Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015  quy định như sau:

    Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này.

    Chính vì vậy, bạn có thể nộp đơn chồng chị cư trú (nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú hoặc nơi cuối cùng bị đơn lưu trú trong thời hạn 06 tháng gần nhất).

    ;
  • Nguyen thi lien nói:
    Tôi va chồng tôi chung sống 5 năm đã dk kết hôn và chuyển khẩu về nhà ck. Đã có 1 con chung. Tài sản chung hiện không có. Tôi muốn viết đơn xin ly hôn thì phải làm thế nào ah. Quê chồng tôi ở xã cư êwi, huyện cư kiun,tỉnh đắklắk. Thì tôi nộp đơn đến đâu giải qiyeets giải quyet ah. Rat mong dc loi nhan, xin cảm ơn.;
  • Admin nói:

    Với câu hỏi của bạn, Công ty trả lời như sau: 

    Thứ nhất, điều kiện ly hôn đơn phương

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: 

    "Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

    Như vậy, theo bạn nói thì trong vòng hai năm nay vợ chồng bạn ngày nào cũng cãi nhau đồng thời chồng bạn có hành vi xúc phạm đến bạn. Đây được coi là hành vi vi pham nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trường hợp này bạn có thể đơn phương ly hôn được mà không cần có sự đồng ý của chồng bạn. 

    Thứ hai, thủ tục đơn phương ly hôn

    Trong trường hợp muốn đơn phương ly hôn chồng, hồ sơ cần chuẩn bị bao gồm:

    - Giấy chứng nhận đăng kí kết hôn (Bản chính)

    - Đơn xin ly hôn theo mẫu

    - Bản sao sổ hộ khẩu

    - Bản sao chứng minh nhân dân 

    - Bản sao giấy khai sinh của con bạn 

    - Những chứng từ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có tài sản chung cần chia).

    ;
  • Nguyễn Thị Hải Yến nói:
    E và chồng e kết hôn đc 8 năm và có 3 con ,nhưng vợ chồng e có mâu thuẫn 2 năm nay 2 vợ chồng e ngày nào cũng cãi nhau và chồng e xúc phạm đến e .vợ chồng e vẫn sống chung nhưng không ngủ cùng nhau .e muốn ly hôn nhưng chồng e không chịu. E muốn hỏi là e muốn ly hôn thì có được không ạ mong phản hồi sớm ạ.e cảm ơn;